|
Gia Đ́nh và Ḷng Đạo Đức B́nh Dân
- Lm. Trịnh
Tín Ư
Ḷng đạo đức b́nh dân đă quy tụ gia đ́nh trước bàn thờ Chúa nguyện lời kinh sáng tối, hát thánh ca, và nhắn nhủ nhau sống đạo lư Chúa qua những bài đồng dao dễ thấm, dễ cảm, dễ hiểu, dễ nhớ. Bên cạnh những cử hành phụng vụ, ḷng đạo đức b́nh dân hay ‘mở hội’ hành hương, ‘mở lễ trọng thể’. Tất cả “phát xuất từ kinh nghiệm tôn giáo và đức tin chân thành không nghi ngờ của các Kitô hữu” (bài 8 Giáo Lư về gia đ́nh, số 4.1). Ḷng đạo đức b́nh dân c̣n rủ nhau, Dù ai đi vắng đâu xa, về lại họ nhà sám hối mùa chay. Và ḷng đạo đức b́nh dân cũng làm thành lề thói hiếu khách, với những cách làm ơn, làm phúc giàu nhân ái. Trước lời khích lệ của Uỷ Ban Giáo Hoàng về Gia đ́nh, “Gia đ́nh Kitô hữu cần liên kết chặt chẽ với những h́nh thức đạo đức này” (Giáo Lư về gia đ́nh bài 8, số 4.4), theo hướng dẫn của Giáo Hội và thấm cảm Lời Chúa, chúng ta, các gia đ́nh cùng về lại bầu khí sốt sắng ở quê ḿnh xưa và nay để nghe, để thấy và để cảm nghiệm, gia đ́nh và ḷng đạo đức b́nh dân đang thi công những công tŕnh đức tin lớn lao
GIA Đ̀NH VÀ CUỘC CHUYỂN GIAO ĐỨC TIN QUA L̉NG
ĐẠO ĐỨC B̀NH DÂN Gia đ́nh là mảnh ‘Đất Hứa’ cho ḷng đạo đức b́nh dân nuôi lớn hạt giống đức tin trong đất màu văn hoá. “Việc chuyển giao những biểu hiện riêng của nền văn hoá từ cha mẹ đến con cái. Nghĩa là từ thế hệ này đến thế hệ khác, bao gồm cả việc chuyển giao những nguyên tắc Kitô giáo. Trong một số trường hợp, sự kết hợp này khăng khít đến độ các yếu tố đức tin Kitô giáo trở thành những yếu tố nội tại của căn tính văn hoá một dân tộc” (LĐDBD&PV, số 63, UBVH/HĐGMVN). Trong bối cảnh tam giáo Phật Lăo Khổng, với những điểm nhấn về nhân sinh, vũ trụ quan đặc trưng khác với Kitô giáo, nhiều gia đ́nh Kitô hữu phân vân, sống đạo thực tế là nỗ lực lội ngược ḍng hay thả xuôi ḍng với nền văn hoá dân tộc. Chẳng hạn, vang bóng một thời, người đàn ông Việt có lúc bị giới hạn vào chữ ‘trung’ rất chật chội trong tương quan ‘quân thần’, ‘quân xử thần tử, thần bất tử bất trung’ mặt khác ông lại leo lên quá cao trong tương quan ‘phu thê’, ‘trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng’. Và nữa, lối nh́n trọng nam khinh nữ ‘nhất nam viết hữu thập nữ viết vô’ đă bao phen gây khủng hoảng cho xă hội và vẫn c̣n để dấu sâu đậm măi tới hôm nay. Dĩ nhiên, như Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói, ḷng đạo đức b́nh dân vừa phải nỗ lực chuyển tải văn hoá vừa chuyển giao những nguyên tắc Kitô giáo từ cha mẹ đến con cái, từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Đây là sứ mạng tế nhị, khó khăn. Không thể giản dị xác quyết, sống đạo là ngược hay xuôi với bối cảnh văn hoá dân tộc, nhưng chắc chắn ḷng đạo đức b́nh dân sẽ gạn đục khơi trong để tín hữu sống Tin Mừng không ngược ḍng với đạo lư Chúa nhưng cũng không thành kẻ lạ mặt giữa quê hương ḿnh (sứ điệp gửi Hội Nghị Khoáng Đại Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, số 4). A/ Bài học khai tâm Ḷng Tin Cha mẹ dạy ‘Đạo’ cho con cái ngay từ thuở con c̣n thơ dại, ‘Có con gầy dựng cho con, gọi là nối đức tổ tông dơi truyền’; ‘Uốn cây từ thuở c̣n non, dậy con từ thuở con c̣n ngây thơ’ (ca dao), Cha mẹ dạy con bài học đầu tiên, Chúa không bao giờ vắng mặt trong mái ấm nhà ḿnh: “Ạ Chúa đi con” Theo kinh nghiệm dân gian, cha mẹ sẵn sàng chuyển giao ‘Đạo’, chuyển giao đức tin cho con khi con chỉ vừa bập bẹ biết nói, chỉ vừa giao cảm được với mẹ bằng đôi ba tiếng ê a. Khi ẵm con đi qua trước bàn thờ, trước tượng ảnh Đức Mẹ, người mẹ thường ấn nhẹ đầu con xuống, “con ạ Chúa đi”, hoặc, “con ạ Đức Mẹ đi”. Người mẹ kiên tâm dạy con làm quen dần với ‘Chúa’ trên bàn thờ và gần gũi với ‘Đức Mẹ’, bà hay chỉ cho con: “Chúa Giêsu đang nh́n bé ḱa”, hay là “Đức Mẹ đang mỉm cười với con đó”. Từng bước, từng bước thầm, người mẹ cứ âm thầm làm người ‘mai mối’, cho tới một ngày đứa con thơ tự biết cúi đầu khoanh tay ạ Chúa, ạ Đức Mẹ là niềm vui oà vỡ ra xôn xao cả nhà. Cha vui, mẹ vui, anh chị em vui như mở hội trong ḷng. Vào sau những giờ kinh tối, nếu bé c̣n thức, người mẹ sẽ ẵm bé ra “tŕnh diện và ‘ạ’ cho cả nhà vỗ tay khích lệ. Không thể coi đây chỉ là một ‘mánh nhỏ dạy con’ nhưng phải thấy là cả một công tŕnh của ḷng đạo đức b́nh dân đang tiến hành chuyển giao đức tin. Và đây là bước đầu con học ‘Đạo’, học ‘tin’. Niềm vui này hứa hẹn ngày mai, những đứa con lớn khôn ra đời, cha mẹ sẽ an ḷng hiểu với con rằng, suốt cuộc đời con sẽ chỉ biết ‘cúi đầu ạ Chúa’, thờ Chúa và dám nói không với bất cứ quyền lực, lợi danh nào. “Đức Bà Chữa” Khi con c̣n thơ, người mẹ Việt Nam rất gần gũi con, nhất là lúc con đă lanh chân chạy nhảy, mẹ không lúc nào rời mắt. Thời điểm này, gặp lúc con té ngă, bà vội vă đến ngay đỡ con dậy và lên tiếng ngay thành lời trấn an con: “Đức Bà Chữa, Đức Bà Chữa...” Và mỗi lần ẵm con trong ḷng, con hít phải luồng gió lạnh, gió lạ, bé hắt x́ hơi là mẹ cũng đáp ngay sau mỗi tiếng hắt x́, “Đức Bà Chữa”. Người mẹ hiểu “Đức Bà Chữa” là lời cầu xin Đức Bà bầu chữa cho con ḿnh nhưng trong kế hoạch đường dài, “Đức Bà Chữa” cũng là một lối ‘truyền âm nhập mật’ gieo trồng vào cơi tâm con đức tin sơ khởi, là giới thiệu cho con làm quen dần với Đức Mẹ. Cách nào đó, theo tâm lư mộc mạc, người mẹ nghĩ, Đức Mẹ dễ giới thiệu hơn nên giới thiệu Đức Mẹ cho con trước khi giới thiệu Chúa. “Cháu biếu ông” Ḷng nhân ái thực tế Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng, gia đ́nh tín hữu nào cũng nhớ nằm ḷng, “V́ xưa tôi đói, anh em cho ăn, tôi khát anh em cho uống, tôi trần truồng anh em giúp áo quần, tôi bệnh nạn anh em ghé thăm, tôi tù đày anh em ghé nuôi” (x. Mt 25, 35). Để việc chia sẻ bác ái thành công tŕnh chung của cả nhà, đặc biệt thành lời nhắc nhớ cụ thể cho con cái, nhiều gia đ́nh tổ chức ‘Kho Từ Thiện’. Kho từ thiện nói cho lớn lao, cho văn hoá tuy thực tế chỉ là cái hộp nhỏ để trên đầu tủ, đựng tiền góp của cha mẹ và các anh các chị, để dành chia cho những người nghèo. Chuyện đáng nói là những đứa em nhỏ trong nhà cũng được góp phần. Dĩ nhiên các em không có tiền để góp nên phải góp công. Mỗi lần có bóng người ăn xin đi ngang là các ‘phần vụ’ khởi động. Người lớn sẽ mở hộp lấy ra số tiền chi viện theo ‘nghị quyết’ đă ban hành (Chẳng hạn khi kho từ thiện đang sung túc, mỗi người ăn xin sẽ được chia năm ngàn, gặp lúc eo hẹp chỉ chia hai ngàn, hoàn cảnh đặc biệt có thể chi nhiều hay rất nhiều). Số tiền chi viện cho ‘kẻ khó’ sẽ do chính em bé trong nhà trao tay với thái độ và lời nói vừa thân t́nh vừa trân trọng: “Cháu biếu ông” hay “biếu bà”. Đặc biệt công tŕnh chung này sẽ được thông tin chi tiết vào giờ kinh tối. Chẳng hạn mẹ hay bố vừa thông tin vừa khích lệ: “hôm nay bé Ngân đă thay mặt nhà ḿnh giúp năm ngàn cho một người mẹ nghèo đi ăn xin, hoan hô ḷng tốt của bé và cả nhà”. Như thế là bé Ngân đă được khích lệ tinh thần nhân ái của Tin Mừng ngay từ lúc bé c̣n trong ‘trứng nước’. Bé sẽ quen dần với nề nếp nhân ái của ḷng đạo đức b́nh dân. Chúng ta có quyền chắc dạ, trong truyền thống đạo đức của gia đ́nh, mọi ngựi chẳng lo cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư. B/ Bài Học Cầu
Nguyện Buổi Tối Trong Tông Huấn Gia Đ́nh, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh: “ngoài các kinh sáng tối, cần đặc biệt khuyến khích [...]: đọc và suy niệm Lời Chúa, chuẩn bị lănh nhận Bí Tích, tôn kính và dâng ḿnh cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, thực thi những h́nh thức sùng kính khác nhau đối với Đức Mẹ, cầu nguyện nơi bàn ăn, làm các việc đạo đức b́nh dân” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 68). Có một dạo, các bạn trẻ ngán ngẩm giờ kinh nguyện buổi tối trong gia đ́nh, thấy như ‘một giờ lao động công ích’. Vắng mặt không xong nhưng có mặt phải đối mặt với những chuỗi ‘kinh kệ’ lê thê, hết kinh cầu này tới kinh cầu khác, dứt chuỗi hạt này sang chuỗi hạt kia, vừa chán chường vừa buồn ngủ nên có cơ hội trốn là trốn ngay. Hơn nữa nhiều lời kinh có thể gây ấn tượng đen tối. Có bạn kể, thỉnh thoảng vào tuần lễ tang, lễ giỗ cả nhà đọc kinh Vực Sâu, kinh Bởi Lời là bạn rùng ḿnh nổi da gà, thấy ḷng hoang mang hăi sợ, khi h́nh dung: người thân, người quen đang đắm ch́m trong cảnh tăm tối, thê lương. Ngày nay trước nhu cầu công việc, hoặc do sức ép bài vở từ trường lớp của con cái, phần lớn phụ huynh đă giảm bớt ‘đề cương’ kinh nguyện buổi tối. Tại nhiều gia đ́nh không biết từ hồi nào tự nhiên biến mất giờ kinh tối, chỉ c̣n mạnh ai nấy đọc, có khi chỉ đọc vội ‘ba kinh Kính Mừng làm giá’ để được Đức Mẹ cứu khỏi lửa hoả ngục (x. sách Tháng Đức Bà). Tuy nhiên nhiều gia đ́nh vẫn c̣n giữ truyền thống tốt đẹp, sau một ngày vất vả lao nhọc hay học hành, cả nhà tạm gác bỏ một bên hết mọi gánh gồng, lo toan cùng xum họp nhau trước bàn thờ Chúa nguyện kinh tối. Mọi người hoà ḷng với nhau dâng lên Chúa, ngỏ với Đức Mẹ những kinh nguyện truyền thống như kinh Dâng Gia Đ́nh cho Trái Tim Chúa, Kinh Kính Mừng, Kinh Lạy Nữ Vương, tất cả là những kinh nguyện đă bám rễ sâu trong ḷng đạo đức của Giáo Hội từ rất lâu đời. Ngoài những kinh truyền thống, gia đ́nh c̣n dành ít phút nghe một câu, một đoạn Thánh Kinh làm ư lực sống cho mỗi ngày. Nhiều gia đ́nh kết thúc giờ kinh chung bằng những lời cầu nguyện xuất phát từ tâm tư mỗi người và cầu lớn tiếng cho cả nhà dự phần. Tại một số gia đ́nh, các con đă đi ở riêng cũng rủ nhau nguyện kinh tối đúng giờ hẹn trước, như để hoà ḷng tạ ơn Chúa và hiệp thông t́nh thân cha mẹ với con cái, anh chị em với nhau, ǵn giữ và nâng đỡ ḷng tin của nhau. Một số gia đ́nh tổ chức lần ‘chuỗi mân côi sống’ cầu cho nhau và cầu cho ông bà, tổ tiên đă qua đời: Mỗi gia đ́nh trong đại gia đ́nh nhận một ngắm với mười kinh Mân Côi, chia sao cho đủ 5 ngắm của một mùa Vui hoặc mùa Sáng, mùa Thương hay mùa Mừng. Những ‘chuỗi Mân Côi sống’ cho gia đ́nh cảm nghiệm mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội, hiệp thông giữa các thành phần của gia đ́nh, Giáo Hội tại gia, hiệp thông giữa người sống và người chết, hiệp thông giữa các thánh với người trần gian. (Đời ḿnh một chuỗi Mân Côi; hạt Thương hạt Sáng hạt Vui hạt Mừng...). Về giữa gia đ́nh, cầu nguyện chung với nhau giờ kinh tối đúng là ‘hồi hương’, về lại nhà để múc kín sức mạnh của ḷng tin, củng cố t́nh thân, hoà giải những bất b́nh. C/ Bài Học Sống
Những Biến Cố Vui Buồn “Quả thật chính đức tin đă mang lại những tập quán và những thực hành của ḷng đạo đức b́nh dân. Điều này rất phù hợp với vai tṛ làm cha mẹ trong việc phát triển và trao ban cho con cái tinh thần kiên vững, đơn sơ của ḷng đạo đức này và thể hiện cuộc sống tương giao với Thiên Chúa không chỉ trong h́nh thức phụng vụ nhưng c̣n cả trong mọi t́nh huống của cuộc sống hàng ngày” (Bài 8 Giáo lư về gia đ́nh, số 4,6). Lễ Tơ Hồng Lễ Tơ Hồng là theo sự tích Trung Hoa, đời Đường, có một người tên là Vi Cố đi chơi đêm trăng, gặp một cụ già đang ngồi lần rở một quyển sách dưới bóng trăng, tay cầm một nắm dây tơ màu hồng, hỏi th́ cụ cho biết, cụ là Nguyệt Lăo chuyên lo việc xe duyên cho vợ chồng nhân gian, dây tơ hồng cụ cầm tay để cột chân hai người làm vợ chồng. Cụ bảo, theo cuốn sổ này, có cả tên họ của người vợ tương lai của anh. Hiện người này là đứa con gái nhỏ của một người ăn xin ngoài chợ (‘Đất Lề Quê Thói’ của Nhất Thanh, Nxb. VHTT, 2001, Trang 404). Sự tích Tơ Hồng diễn tả quan niệm duyên phận trong hôn nhân, ‘Thân em như hạt mưa rào, hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa’ hoặc phận gái mười hai bến nước đục, trong. Trong nhờ đục chịu’. Trước quan niệm này, hôn nhân Kitô giáo vào cuộc, đă tách Nguyệt Lăo ra khỏi ṿng xe đan tơ hồng tuy giữ lại kiểu nói văn chương xe duyên kết phận, nhưng quan trọng là ḷng đạo đức b́nh dân đă mang Chúa vào lănh công tŕnh xe duyên kết phận đôi hôn nhân. Đây không phải chuyện ỡm ờ mây gió của Ông Tơ Bà Nguyệt nhưng đúng như lời xác định trong Bí Tích Hôn nhân, “Điều Thiên Chúa đă kết hợp, con người không được phân ly” (x. Mc 10, 9). Và cũng quan trọng: nét đặc trưng mới mẻ của cuộc xe duyên Kitô giáo là ‘con người không được phân ly’. Theo đấy, ngoài Thánh Lễ Hôn Nhân với cuộc chứng hôn cử hành tại nhà thờ họ đạo, cuộc hôn nhân c̣n thêm những nghi thức tôn giáo nhiều ư nghĩa, rất cảm động và đậm màu sắc văn hoá dân tộc. Nói chung, ngày nay nghi thức đưa, đón dâu rể của các cặp hôn nhân Kitô giáo luôn bắt đầu bằng những lời cầu nguyện giữa đông đủ họ hàng, người thân, người quen đôi bên, xin Chúa chúc phước lành cho cô dâu, chú rể. Lời cầu nguyện thường được xướng cất do một vị cha bác vị vọng của đàng trai hay đàng gái và được cả cộng đoàn đáp nguyện. Hoà với những lời cầu nguyện là những bài thánh ca mang ư nghĩa xin ơn và tạ ơn Chúa cho đôi tân hôn. Thêm vào đó là lời nhắn nhủ của cha mẹ đôi tân hôn, khuyên đôi bạn sống theo mẫu gương của Thánh Gia: Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu và những lời chúc nguyện tốt đẹp. Lễ Tang Chúng ta tin, ‘cuộc sống con người thay đổi chớ không mất đi và khi nơi nương náu ở trần gian này thay đổi, họ lại được một chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời’(x. Dt 11, 16) khác hẳn với lối nh́n chung của dân ḿnh: ‘Kiếp này duyên đă lỡ duyên, kiếp sau xin hẹn cửu tuyền gặp nhau!’ (ca dao). Dù khác biệt nhau về niềm tin, ḷng đạo đức b́nh dân rất đồng cảm với những lối diễn tả, những tâm t́nh về nỗi chết với cách ǵn giữ t́nh cảm sâu đậm cho người quá cố. Từ đó tang lễ tại gia và việc tưởng nhớ người quá cố đă hội nhập tốt đẹp một số nghi thức văn hoá địa phương: với niềm tin tưởng vào thế giới bên kia, thế giới của những người đă khuất, người lương dân luôn làm sống động mối liên lạc với ông bà tổ tiên bằng việc cúng quả, hương đèn mỗi ngày trước di ảnh người quá cố và ghi nhớ ngày giỗ cùng với nghi thức tưởng niệm. Riêng tín hữu cũng có thể đón nhận những nghi thức tương tự như thắp nhang trước quan tài, trước hương án tổ tiên như lời minh định ḷng tin vào Đức Kitô Phục Sinh và lời hứa của Chúa: “Chính Thày là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thày th́ dù có chết cũng sẽ được sống. Ai tin vào Thày sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26). Ở đây tín hữu c̣n ư thức rơ, thắp nhang trước thi hài hay di ảnh người quá cố không có nghĩa một lối nh́n nhận, đánh giá về vận mệnh thiêng liêng của ai. Vận mệnh của mỗi người chỉ ḿnh Chúa biết. Nhưng tin vào ḷng nhân lành Chúa, tín hữu luôn dâng lời nguyện cầu cho mọi người quá cố. Hơn nữa vào những ngày giỗ, những dịp tưởng niệm tín hữu không quên cầu nguyện, xin lễ, dự lễ cầu cho tổ tiên, ông bà. Đặc biệt dịp lễ Các đẳng Linh Hồn các gia đ́nh thường rủ nhau đi ‘đất thánh’ sửa sang mộ phần người thân, chưng bông hoa và đặt nhang đèn trên mộ phần. Đúng ngày lễ (2 tháng 11) con cháu từ các nơi về dự lễ cầu nguyện. Với những họ đạo có nghĩa trang riêng và có điều kiện thuận tiện, thánh lễ cầu cho các đẳng sẽ cử hành ngay tại nghĩa trang. Nếu có nhà hài cốt, thánh lễ cũng cử hành tại đây. Ở nhiều nơi mỗi tháng có thánh lễ tại nhà hài cốt với nhiều thân nhân dự để cầu cho người đă khuất. Những nề nếp này đều phản ảnh ḷng tin sáng tỏ vào tín điều ‘các thánh cùng thông công’. Đối với những người quá cố, ḷng đạo đức b́nh dân được biểu thị bằng nhiều cách, tuỳ theo nơi chốn và những truyền thống khác nhau. Đặc biệt có thể kể: tuần cửu nhật cầu cho những người đă qua đời, chuẩn bị cho Lễ Các Linh Hồn ngày 2 tháng 11, viếng Nghĩa trang: việc này có thể được thực hiện một cách cộng đồng, như vào ngày Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đă Qua Đời (LĐĐBD&PV, số 260).
Lễ Khấn Xin “C̣n có những h́nh thức khác của ḷng đạo đức b́nh dân như cầu nguyện nhóm, lần chuỗi trong gia đ́nh, ...xin khấn cầu nguyện cho mưa thuận gió hoà hay giữ ǵn chở che cho khỏi tai ương hoạn nạn” (Bài 8 Giáo lư về gia đ́nh, số 4,5). Một người thân lâm bệnh nặng, một vụ cháy nhà, một cơn băo sắp ập tới, một cuộc động đất, một cuộc chiến đang đe doạ bùng nổ... Nói chung bất cứ cảnh khốn khổ, nỗi bất trắc nào xẩy ra trong gia đ́nh hay ở một địa phương đều làm mọi người lo lắng, hăi sợ. Giữa cơn lo sợ vô vọng, ḷng đạo đức b́nh dân luôn dẫn tín hữu tới những lời cầu nguyện, cầu nguyện cá nhân hay gia đ́nh hoặc nhiều gia đ́nh họp nhau cầu nguyện xin Chúa cho tai qua nạn khỏi. Ư khấn xin của gia đ́nh có thể thông báo cho một nhóm gia đ́nh cùng hiệp ư xin hoặc quy tụ nhiều gia đ́nh để khấn nguyện chung. Ai cũng hy vọng lời cầu nguyện của nhiều người đáng được Chúa lắng nghe, ‘một hạt kinh chung bằng một thùng kinh riêng’, như lời Chúa Giêsu đă hứa, “khi anh em hai ba người tụ họp lại cầu nguyện nhân danh Thày, Thày sẽ ? giữa họ” (x. Mt 18, 20).
GIA Đ̀NH VÀ CUỘC
TIẾP NHẬN TRUYỀN THỐNG ĐẠO ĐỨC Gia đ́nh là Giáo Hội tại gia, nhưng trong tương quan với Họ đạo, gia đ́nh là thành phần của Họ đạo, một Giáo Hội Địa Phương thu nhỏ. Trong t́nh cảm Họ đạo được nh́n như ‘đất tổ quê hương’ của các gia đ́nh. Nơi đây có ngôi giáo đường thân quen luôn ấp ủ cộng đoàn trong những cảnh vui buồn, những bước thăng trầm và ghi nhận bao nhiêu biến cố phúc hạnh của những người con trong các gia đ́nh. Từ những ngày họ c̣n bế ngửa lănh Bí Tích Rửa Tội sang thời thơ ấu Xưng tội, Rước lễ lần đầu (vỡ ḷng) rồi được Thêm Sức, Bao Đồng. Nơi đây các gia đ́nh nhận được sức sống, ơn thánh từ các Bí Tích và họp nhau thành cộng đoàn phụng thờ, tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa. Đàng khác cũng nơi đây, “các gia đ́nh được tiếp nhận nhiều h́nh thức khác nhau của ḷng đạo đức b́nh dân thể hiện trong suốt Năm Phụng Vụ và đặc biệt trong Mùa Chay, Tuần Lễ Thánh và Tam Nhật Vượt Qua. Ngoài những dịp lễ đặc biệt, c̣n những thể hiện ḷng đạo đức b́nh dân tương quan với Đức Trinh Nữ Maria, các tín hữu đă qua đời và các Thánh” (Bài 8 Giáo lư về gia đ́nh, số 4.3). A/ Mùa Tĩnh Tâm Và Sám Hối Mỗi năm vào mùa Vọng và mùa Chay các gia đ́nh nô nức chuẩn bị tâm hồn đi dự tuần tĩnh tâm và sám hối tại nhà thờ Giáo họ để chuẩn bị mừng Chúa Giáng Sinh hoặc mừng Chúa Phục Sinh. Đây là những biến cố đỉnh cao trong cuộc đời Chúa Giêsu được Phụng Vụ nhấn mạnh, và nơi các gia đ́nh, được vợ chồng nhắn nhủ nhau, cha mẹ nhắc nhở con cái. Khi mùa tĩnh tâm sám hối về, khung cảnh Giáo họ náo nhiệt hẳn lên và bầu khí các gia đ́nh sốt sắng khác thường. Vào mùa sám hối các gia đ́nh cố sắp xếp công việc nhà cho con cái thư thái tham dự tĩnh tâm. Nhiều người cũng tạm hoăn những chuyến làm ăn xa, ở nhà lo ‘sám hối’. Không khí Giáo họ như làm ‘căng thẳng’ hơn, có vẻ gây sức ép tâm lư nặng hơn cho những người con chưa sẵn sàng sám hối hay không sẵn ḷng trở về. Tuần tĩnh tâm sám hối thường trở thành điểm khởi đầu cho cuộc hồi hương của đứa con hoang trở về nhà cha. Vào Mùa Tĩnh Tâm Sám Hối, tự nhiên ḷng người hồi tưởng đến sứ điệp ḷng khoan dung và tha thứ của Thiên Chúa: dụ ngôn Người Cha Phung Phí (tên gọi mới của dụ ngôn Người Con Hoang Đàng), dụ ngôn Ông Vua Tha Nợ... Vào Mùa Sám Hối, nếu những người con trong nhà vẫn hờ hững đứng ra bên lề giáo đường, từ chối các Bí Tích, sẽ tự nhiên thấy không yên ḷng và khát khao t́m một lối về Hoà Giải. Do đó trong ngôn từ b́nh dân, người ta bảo, vào Mùa Thánh này Giáo Hội thường bắt được những ‘con cá sộp’ từng bỏ xưng tội có khi mười mấy hai chục năm. Với những cặp hôn nhân rối, mùa Tĩnh Tâm Sám Hối thành những mốc điểm cho các anh chị dừng bước sám hối và thực ḷng t́m lại nhịp sống hiệp thông với Giáo Hội, với gia đ́nh. Tịnh tâm và tịnh khẩu Trong nhiều gia đ́nh chẳng hiểu tại sao vợ với chồng hoặc cha mẹ với con cái tự nhiên khắc khẩu, nói với nhau dù chuyện to hay chuyện nhỏ cũng thành to tiếng, rồi sang nặng lời. Nặng lời đến căi cọ và căi cọ thành căi vă (vừa căi, vừa vả!). Những t́nh huống xuôi chiều vơ biền này trong Mùa Tịnh Tâm sẽ dễ bị bà con, xóm riềng nhân danh tinh thần Mùa Sám Hối làm ‘khó dễ’: “Các cháu ạ, một câu nhịn, chín câu lành, ḿnh đang trong Mùa Sám Hối, các cháu giữ ḷng, giữ miệng mà rước lễ!” Đă hẳn ai biết tịnh tâm là biết tịnh khẩu nên các gia đ́nh trong xóm đạo bớt những cuộc xô xát, căi vă. Nghĩa là biết nể Chúa, nể nhau hơn. Sống Mùa Thánh các gia đ́nh sẽ ư thức rơ t́nh liên đới cộng đoàn trong hành tŕnh về Quê Trời, hành tŕnh với nhau sẽ ‘biết chị ngă em nâng’. Mọi người sẽ không ngần ngại theo Thày, cùng với Thày lặn lội đi t́m và vác về những con chiên xa bầy (x. Mt 18, 12). Thày cũng thuận ư như thế như có lần Thày ân cần nói với Phêrô, “Khi anh vững tin, anh sẽ làm vững đức tin cho anh em” (x. Lc 22, 32). Tại tâm hay tại ngoại Đáng tiếc, một số giáo dân học nhiều, kiến thức rộng đă hờ hững đứng bên lề Mùa Tĩnh Tâm Sám Hối, không hoà với ‘ḷng đạo đức b́nh dân’, viện lẽ ‘Đạo tại tâm’. Họ hay chê đề tài tĩnh tâm b́nh dân, chê người hướng dẫn tĩnh tâm cũng b́nh dân! Ai hiểu cho, trong cuộc tĩnh tâm, không phải lời con người nhưng chính Lời Chúa được công bố đă tác động nơi tâm hồn người tham dự. Có dạo những nhà trí thức Công Giáo ở Paris xôn xao khi nghe tin, đông đảo người tới lắng nghe và thụ giáo với một Linh Mục học dốt hồi ở chủng viện, đang làm Cha Sở Họ đạo Ars. Đă có người nghĩ xấu: “Ông Cha này dốt, chẳng hiểu hết sự t́nh, nguồn ngọn nên chuyện ǵ cũng lư giải giản dị”. Họ nghĩ ngài giống chiếc ch́a khoá ‘passe partout’ cái ǵ cũng ‘passable’. Nhưng nghĩ thế là lầm, những nhà trí thức thành tâm muốn t́m hiểu Cha Sở họ Ars, sau khi đi thăm Cha trở về đều chẳng chịu mô tả, biện luận ǵ, chỉ giản dị: “Chúng tôi đă gặp được Thiên Chúa”. Dĩ nhiên chẳng cứ phải những đầu óc thông minh bác học mới là nhân chứng Thiên Chúa có mặt. Một Linh Mục ‘hai lúa’, sống giữa họ đạo nhà quê vẫn đúng là người thắp lửa lên, ngọn lửa của ḷng sám hối giữa một cộng đoàn nhà quê đang tịnh tâm. Và ai từ chối quỳ gối, cúi đầu tỏ ḷng tôn thờ Chúa, dửng dưng với kinh nghiệm chân thành về ḷng tin và sống đức tin của cộng đoàn là từ chối đồng hành với Dân Chúa. Như thế ai nghĩ, ‘đạo chỉ là tại tâm’ là giản lược Đạo thành một ư tưởng, một lập trường thuần lư, là xa rời Lời Thày. Với Thày đạo là chính Thày để chúng ta tin yêu và hy vọng. Đạo là con đường t́nh Thày đi cho chúng ta vác thập giá đi với và đi theo Thày: “Ai muốn theo Thày, xin vác thập giá ḿnh mỗi ngày và đi theo” (x. Mt 16, 24). Và t́nh yêu Thày dạy chúng ta không chỉ là lư tưởng trong ḷng ai nhưng ‘yêu thương’ là xoa dầu, bóp thuốc, xốc lên ngựa, đem về quán trọ, trả tiền (x. Lc 10, 34), yêu là cho người đói ăn, người khát uống, giúp người trần truồng áo quần mặc, thăm hỏi người yếu đau, xách giỏ đi thăm nuôi người bị tù (x. Mt 25, 35). Và nói theo nhà Bác học Pascal, “Bạn cứ quỳ gối xuống rồi bạn sẽ sám hối” (nguyên văn câu của Pascal: ‘Bạn cứ quỳ gối xuống rồi bạn sẽ tin’). B/ Mùa Dâng Hoa Tháng Năm là tháng Kính Đức Mẹ, cũng là tháng các nhà thờ rước kiệu Đức Mẹ và dâng hoa. Nên thời gian này cũng gọi là Mùa Dâng Hoa. Vào Mùa Dâng Hoa, Giáo dân Việt Nam thể hiện ḷng sùng kính và t́nh cảm đặc biệt với Đức Trinh Nữ Maria. Ḷng sùng kính Đức Maria không chỉ là cảm tính, như ai đó nhận định, và có thời nhiều người muốn bỏ tháng kính Đức Mẹ (LĐĐBD&PV, số 191). Hướng dẫn về Ḷng Đạo Đức B́nh Dân & Phụng Vụ phần ‘Ḷng Sùng Kính Với Mẹ Thánh Của Chúa’ đă định hướng: Trên thực tế, các tín hữu biết rằng người Con là Thiên Chúa, Chúa của họ, và Đức Maria, người Mẹ, cũng là Mẹ của họ... Họ cử hành các cuộc lễ của Mẹ trong niềm vui, sẵn ḷng tham gia các cuộc rước kiệu tổ chức để tôn vinh Mẹ và đi hành hương đến những ngôi đền cung hiến cho Mẹ, họ thích hát lên những bài ca ngợi Mẹ và dâng lên Mẹ ḷng tôn kính khi phát nguyện những khấn hứa (sđd số 183). Dâng hoa là một biểu hiện ḷng sùng kính Đức Mẹ đặc trưng của tín hữu Việt Nam vùng Đồng Bằng Bắc Việt. Lễ dâng hoa thường bắt đầu bằng cuộc rước kiệu Đức Mẹ với chuỗi Mân Côi và kết thúc bằng Chầu Phép Lành Ḿnh Thánh Chúa. Lễ dâng hoa gồm ba yếu tố: văn dâng hoa (lời hát khi dâng hoa), múa dâng hoa và tâm t́nh hiến dâng. Văn dâng hoa thuộc loại văn chương dân dă tuy không chải chuốt mượt mà nhưng ngôn từ thanh nhă, sâu đậm t́nh cảm. Thí dụ: Chúng con mọn mạy phàm hèn, dám đâu ngước mắt trông lên bàn thờ. Đền vàng quỳ trước dâng hoa, trông lên tháp báu thấy toà Ba Ngôi. Văn dâng hoa theo thể nhạc ngũ cung Việt Nam. Với những tiếng ngâm nga ‘i, a’ truyền thống văng vẳng, nhẹ nhàng và cung kính. Riêng nội dung các bài văn rất sáng tỏ là những lời chúc tụng, tạ ơn và khấn xin tâm thành. Tác giả những bài văn này chưa xác định được nhưng nhiều người nghĩ, họ là những nghệ sĩ dân dă sống giữa các xóm đạo nhưng hiểu biết giáo lư và thông thạo chữ nghĩa. Điều đặc biệt là hầu hết các bài văn hoa ở miền Bắc cung giọng, phần đoạn giông giống nhau. Múa dâng hoa là một điệu múa dân gian cổ truyền gồm khoảng từ 6 tới 12 cặp con hoa, thường con hoa là nữ không có pha trộn nam nữ. Các con hoa trang diện xinh đẹp, trang nhă, ở lứa tuổi U15, các em múa dâng hoa cho Đức Mẹ trước tượng Đức Mẹ trên kiệu hoa đặt giữa nhà thờ. Điệu múa luôn nhịp nhàng diễn tả lời văn. Đội h́nh có thể chuyển động thành h́nh chữ “M” (Maria), chữ O (vương miện) hay chữ + (thánh giá). Con hoa có thể dâng hoa hay dâng nến theo lời ca thích hợp. Tâm t́nh hiến dâng cô đọng trong nội dung bài văn và được con hoa minh hoạ theo. Đáng chú ư, khi múa dâng hoa, con hoa sẽ nhịp nhàng theo nhịp điệu và đồng bộ theo đội h́nh. Đây chỉ là mặt nổi, là ‘phụ liệu’ của đội hoa. Nhưng nổi bật là gia sản đạo đức và văn hoá trong lễ dâng hoa, cũng là nét khác biệt căn bản giữa múa dâng hoa trong nhà thờ và các điệu ca vũ ngoài sân khấu. Khi vũ dâng hoa, các con hoa tâm thành diễn tả tâm t́nh dâng hiến cuộc sống cho Thiên Chúa qua Mẹ Maria. Khi dâng hoa lên Đức Mẹ các em cảm nhận khát vọng vươn lên cao măi với Đức Mẹ, Đấng rất Thánh Thiện, Từ Bi. Con hoa trong vũ dâng hoa đúng hơn đă dâng hoa qua một điệu vũ, không phải diễn một màn vũ dâng hoa. Theo đó, người tham dự làm thành với các con hoa một cộng đồng dâng hoa tặng Đức Mẹ, trong đó con hoa chỉ là người đại diện. V́ thế người tham dự không là khán giả dự khán nhưng đúng là những người trong cuộc góp mặt trong lễ dâng hoa. Những tâm t́nh hiến dâng trong lễ dâng hoa như: Đội ơn Đức Mẹ cực khoan Dủ ḷng bảo hộ an khang phù tŕ Đội ơn Đức Mẹ nhân thay Dủ thương v́ chúc tụng này cùng hoa Chúng con lạy Chúa Cha nhân thứ Đă giữ lời phán hứa dủ thương Dựng nên Rất Thánh Nữ Vương. Tâm t́nh được diễn tả bằng năm sắc hoa (xanh, đỏ, trắng, tím, vàng) gọi là tiến hoa năm sắc, hoặc bốn mùa hoa (Xuân, Hạ, Thu, Đông) gọi là tiến hoa tứ thời. Bài văn sẽ được kết thúc bằng ‘phần tạ’(phần kết) diễn tả tâm t́nh tạ ơn và cầu xin. C/ Mùa Lễ Hội Dân gian Việt Nam có hai mùa Lễ Hội được mọi gia đ́nh nô nức đón mừng: Lễ Hội Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu (tết Đoan Ngọ). Cả hai tuy đă phai lạt ư nghĩa ban đầu và lơ là với những nghi thức nguyên thuỷ nhưng vẫn c̣n đó những cuộc hội họp tưng bừng. Hầu hết các gia đ́nh tín hữu hôm nay đều hoà ḷng tham dự những ngày lễ hội dân gian này nhưng đă thổi vào các Lễ Hội một ư nghĩa đạo đức mới. Cách nào đó ḷng đạo đức b́nh dân đă thay da đổi thịt cho hai Lễ Hội dân gian đây để thành những Lễ Hội đạo đức, những thể hiện sống động của ḷng tin Kitô giáo. Lễ Hội Tết Nguyên Đán Lễ Hội Tết Nguyên Đán mừng năm mới kéo dài ít nhất ba ngày đầu năm mới Âm Lịch nhưng cao điểm là Lễ Giao Thừa cũng gọi là Lễ Trừ Tịch, hiểu là: Trừ là trao lại chức quan, tịch là ban đêm. Hết giờ Hợi sang giờ Tư là bắt dầu sang ngày mới của năm mới. Thời điểm này gọi là giao thừa, dân làng làm lễ trừ tịch tiễn thần Hành Khiển năm cũ, đón vị thần Hành Khiển năm mới để cầu cho dân chúng khang an, thịnh vượng (x. ‘Đất Lề Quê Thói’, của Nhất Thanh, Nxb VHTT, 2001, trang 328). Ư nghĩa nguyên thuỷ này đă được rửa tội để nhận ư nghĩa mới theo lối nh́n của đức tin Kitô giáo như được ghi nhận trong nghi thức làm phép nến Phục Sinh trong đêm vọng Phục Sinh: Đức Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay là Alpha và Omega, nghĩa là khởi nguyên và tận cùng. Người làm chủ thời gian và muôn thế hệ. Với dân chúng, thời điểm Giao Thừa rất được trân trọng. Người ta thắp nhang vái tứ phương để cầu khấn Trời cho một năm mới an khang thịnh vượng, c̣n tín hữu Kitô giáo bỏ lại sau lưng tất cả mọi chuyện làm ăn, mọi toan tính, lo lắng, để thư thái tập trung trước bàn thờ Chúa tham dự lễ và hướng về Chúa là Chủ của Thời Gian, là khởi đầu và cùng đích của vũ trụ và của mỗi người. Các gia đ́nh hợp ḷng tạ ơn Chúa và cầu b́nh an cho năm mới. Đặc biệt xin cho gia đ́nh luôn biết vâng ư Cha dưới đất cũng như trên Trời. Với lương dân sau khi lễ bái ở Chùa, mỗi người t́m tới một cành cây trong vườn chùa, hái một đọt lá, gọi là hái lộc đầu năm cầu khấn Đấng Bề Trên ban cho may mắn suốt năm. Ngày nay ở một số nhà thờ, sau Thánh Lễ, giáo dân được mời bước lên gian thánh hái ‘lộc Lời Chúa’. Lộc đây là những tấm thẻ ghi sẵn một câu Lời Chúa được treo đầy trên các cành lá của một thân cây. Giáo dân tin tưởng mỗi câu lời Chúa đều mang lại một điều tốt đẹp cho người hái. Tấm thẻ Lời này sẽ được chưng tại một vị trí cao trong pḥng khách và thỉnh thoảng được đọc lại làm ư lực sống. Lễ Hội Tết Trung Thu Hầu hết những lễ hội dân gian đều nhắm tới bậc ông bà, cha bác, thày cô như Tết Đoan Ngọ, tết Trung Nguyên (có nguồn gốc văn hoá Bắc Phương đă được Việt hoá và thường phổ biến trong giới có bát ăn bát để). Riêng các em thiếu nhi mừng vui được làm khách mời chính của Lễ Hội Tết Trung Thu. Tết Trung Thu vào rằm tháng Tám Âm Lịch tuy là thời điểm năm học mới vừa bắt đầu, các em khá bận rộn với việc học hành tại trường lớp, nên bầu khí lễ hội có thể ít sôi động nếu Lễ Hội rớt vào một ngày thường trong tuần. Tuy nhiên Lễ Hội Trung Thu có thể được coi là điểm nhấn của ḷng đạo đức b́nh dân nơi các gia đ́nh và Họ Đạo. Ḷng đạo đức b́nh dân cảm hứng ḷng Chúa trân trọng yêu quư các em thiếu nhi, “Hăy để các em đến với Thày, v́ Nước Trời thuộc về những người nên giống các em” (x. Mt 18, 3), đă biến một lễ hội dân gian thành Lễ Hội mừng tuổi thơ dịp rằm Trung Thu. Lễ Hội Trung Thu tập trung vào một thánh lễ dành riêng cho các em. Đề tài thánh lễ hướng tới vũ trụ quanh ta, mặt trăng, mặt trời cùng muôn tinh tú là quà tặng Thiên Chúa tặng trần gian giúp các em khám phá, chiêm ngưỡng nét mỹ miều của vũ trụ và lên lời tạ ơn, ngợi khen Thiên Chúa. Những cuộc rước đèn trung thu, những cuộc hội diễn văn nghệ được tổ chức tại các khu xóm, nơi sân Thánh Đường qui tụ các em thiếu nhi không phân biệt giàu nghèo, đạo giáo. Họp mặt với nhau, các em chia sẻ nhau những bài hát ca ngợi bầu trời, bóng trăng, ḷng người tươi sáng và t́nh yêu Chúa vô bờ. Các em cũng được thân t́nh chia sẻ với nhau quà bánh trung thu nhờ ḷng tốt của bằng hữu xa gần giúp góp. Lễ Hội Trung Thu c̣n giới thiệu với tuổi thơ một thoáng khuôn mặt thân thương của cuộc sống. Trong đó có bầu trời trên cao với mặt trời, bóng trăng, mây đẹp, gió hiền và xung quanh là bè bạn xóm riềng thân quen, là trường lớp, thày cô hiền hoà. Các em mong gặp khuôn mặt cuộc sống không chỉ có một rừng ô tô, xe máy ồn ào, không chỉ có một biển máy móc khô khan, vô t́nh, vô nghĩa cung cấp các games điện tử với những khung cảnh ảo, nhân vật ảo. Bi kịch đang mở màn là các em trong đời thường sẽ biết tṛ truyện với máy, trên máy nhiều hơn gặp mặt người quen, nói chuyện với người thân. Lễ Hội Trung Thu có thể coi là Lễ Hội giới thiệu khuôn mặt dễ thương của cuộc sống trong đó có khuôn mặt t́nh yêu của Thiên Chúa và của mọi người. Lễ Hội Hành Hương Khởi từ ḷng đạo đức b́nh dân, từ lâu Giáo Hội đă giữ truyền thống hành hương tới Đất Thánh, mồ thánh, đền thánh, nơi ǵn giữ di tích các Thánh Tử Đạo... Hành hương là những chuyến đi đạo đức của các tín hữu để h́nh dung cuộc hành tŕnh trên đường về quê trời. Theo ‘Hướng dẫn về Ḷng Đạo ĐứcB́nh Dân và Phụng Vụ’: “khách hành hương đi đến đền thánh, họ cũng được hiệp thông trong ḷng tin và đức ái, không chỉ với những kẻ cùng đi với ḿnh trong “cuộc hành tŕnh thánh” (Tv 84, 6), mà c̣n với chính Chúa nữa. Người đồng hành bên người ấy, cũng như Người đă từng đi bên cạnh các môn đệ thành Emmaus”. Đàng khác những cuộc hành hương c̣n mang chiều kích lễ hội. Niềm vui của cuộc hành hương Kitô giáo xuất hiện như sự kéo dài niềm hân hoan mà người lữ hành Israel đạo đức đă từng cảm nghiệm. “
|